Thành tựu 20 năm ngành VHTTDL

NGÀNH VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH BÌNH DƯƠNG CHẶNG ĐƯỜNG 20 NĂM PHÁT TRIỂN

(11:44 | 31/12/2015)

Cùng với cả Nước, ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch Bình Dương được hợp nhất từ 1 số ngành, trãi qua thời gian 20 năm xây dựng và phát triển (1995-2015) đến nay đã  đạt được những thành tựu đáng kể


I.THÀNH TỰU 20 NĂM

1.Lĩnh vực Văn hóa

          Đời sống văn hóa cơ sở tỉnh Bình Dương những năm qua có nhiều mặt chuyển biến khá tích cực, tốc độ đầu tư xây dựng cơ sở vật chất văn hóa phát triển nhanh.

Hoạt động biểu diễn nghệ thuật và văn nghệ quần chúng phục vụ nhân dân và công nhân lao động chú trọng tăng lên về mặt chất lượng và số lượng. Đoàn Ca múa nhạc dân tộc, Đội Tuyên truyền và Chiếu phim lưu động tỉnh trung bình tổ chức 120 buổi diễn phục vụ cơ sở hàng năm. Nội dung phong phú kết hợp với các chủ đề thời sự góp phần truyền tải kịp thời những chủ trương và đường lối chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước đến với các tầng lớp nhân dân.

Phong trào văn nghệ quần chúng ở các cơ quan, đoàn thể và doanh nghiệp thường xuyên được tổ chức. Nhiều đội văn nghệ không chuyên, các câu lạc bộ, nhóm sở thích và các câu lạc bộ thơ, ca, đờn ca tài tử…cùa quần chúng nhân dân đã được hình thành. Qua đó phát hiện những tài năng, nhân tố mới để bổ sung vào các đội văn nghệ quần chúng.

Thông qua các ngày lễ, kỷ niệm của đất nước, các sự kiện chính trị của địa phương, các cuộc hội thi, hội diễn, liên hoan văn hóa nghệ thuật với nhiều loại hình hoạt động đa dạng phong phú. Các cuộc thi nhiếp ảnh, sáng tác ảnh nghệ thuật và triển lãm; cuộc thi sáng tác các tác phẩm âm nhạc, ca cổ, chặp cải lương được tổ chức thường xuyên. Đặc biệt, trong khuôn khổ chào mừng Đại lễ kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long – Hà Nội, ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Bình Dương đã tổ chức thành công Festival gốm sứ Bình Dương năm 2010.

Song song với hoạt động của Thư viện cấp tỉnh, hệ thống thư viện công cộng tiếp tục được củng cố, duy trì và phát triển. Hầu hết các huyện, thị xã, thành phố (cấp huyện) đều đã hình thành thiết chế thư viện cấp huyện. Đến nay toàn tỉnh có 24 Thư viện cấp xã và 45 điểm Bưu điện Văn hóa xã đang duy trì hoạt động, phục vụ nhu cầu văn hóa đọc của nhân dân. Thư viện tỉnh hiện có tổng số 521.044 bản sách, tài liệu (đạt tỉ lệ 0,3 bản sách/1 đầu người dân).

Công tác nghiên cứu, sưu tầm các giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể, xây dựng tượng đài và trùng tu, tôn tạo các di tích lịch sử được quan tâm thực hiện. Đến nay, trên địa bàn tỉnh có 52 di tích lịch sử, văn hóa được công nhận và xếp hạng, trong đó có 12 di tích cấp quốc gia và 40 di tích cấp tỉnh.

Bảo tàng Tỉnh hiện đang lưu giữ 18.233 tài liệu, hiện vật, trong đó tài liệu, hiện vật đã đăng ký kiểm kê (đạt 64,2 %). Hệ thống Bảo tàng, Nhà truyền thống và các di tích văn hóa, lịch sử trên địa bàn tỉnh thường xuyên mở cửa đón từ 150.000 đến 180.000 lượt khách đến tham quan hằng năm.

Các loại hình văn hóa phi vật thể như: Nghệ thuật chạm khắc gỗ, nghệ thuật múa Hẩu, nghề vẽ tranh trên kính được tổ chức nghiên cứu và sưu tầm, loại hình nghệ thuật truyền thống (tuồng cổ, hát bội) hình thành và duy trì trong dân gian, nghệ thuật đờn ca tài tử Nam bộ phát triển trong những năm gần đây, qua điều tra thống kê trong toàn tỉnh có 59 câu lạc bộ với 800 hội viên đang sinh hoạt ở các câu lạc bộ.

Xây dựng và phát triển các thiết chế văn hóa:

Cấp tỉnh: Có các thiết chế: Trung tâm Văn hóa - Điện ảnh, Đoàn ca múa nhạc dân tộc; Bảo tàng, Thư viện; Trường Trung cấp Mỹ thuật – Văn hóa; khu di tích lịch sử Sở Chỉ huy tiền phương chiến dịch Hồ Chí Minh; khu di tích lịch sử địa đạoTam Giác Sắt; khu di tích lịch sử Rừng Kiến An; di tích Nhà tù Phú Lợi; di tích lịch sử Chiến khu Đ…

Cấp huyện: Một số công trình thiết chế văn hoá, thể thao đã được đầu tư xây dựng tiêu biểu: Trung tâm Văn hóa Thông tin – Thể thao thị xã Tân Uyên, Trung tâm Văn hóa Thông tin – Thể thao huyện Phú Giáo, Thự viện Thị xã Dĩ An.

Cấp xã: 35/91 xã, phường, thị trấn có Trung tâm Văn hóa - Thể thao (đạt tỷ lệ 38,46%), trong đó có 28 Trung tâm được đầu tư xây dựng mới khang trang đạt chuẩn về diện tích, phù hợp với quy chuẩn, tiêu chí của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch.

Về thực hiện chủ trương xã hội hóa văn hóa và thể dục thể thao của Chính phủ. Trong những năm qua các tổ chức, cá nhân và doanh nghiệp đã đầu tư nhiều công trình văn hóa ngoài công lập với cơ ngơi khang trang và đạt chuẩn góp phần nâng cao mức hưởng thụ đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân. Các công trình như: Nhà hát, nhà sách, rạp chiếu phim 3D-4D, Trung tâm Hội nghị triển lãm, phim trường, các cơ sở kinh doanh dịch vụ karaoke... đã phát huy hiệu quả tốt.

Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”

          Trong 20 năm thực hiện Cuộc vận động “TDĐKXDĐSVH” ở khu dân cư  (1995 - 2015) và 15 năm thực hiện phong trào “TDĐKXDĐSVH” (2000 - 2015), đã làm chuyển biến sâu sắc về nhận thức đối với vị trí, vai trò của văn hóa trong đời sống xã hội, góp phần xây dựng con người phát triển toàn diện, nhất là ý thức cộng đồng, lòng nhân ái, khoan dung, tôn trọng nghĩa tình, quan hệ hài hòa trong gia đình và xã hội .Qua các năm tỷ lệ hộ đạt gia đình văn hóa tăng 12,01%; tỷ lệ khu phố, ấp đạt văn   hóa tăng 18,63%; tỷ lệ CQ, ĐV, DN đạt chuẩn văn hóa tăng 4,55%.

           Thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang

Việc triển khai thực hiện các qui định về nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang trên địa bàn tỉnh trong những năm qua đã được các cấp chính quyền từ tỉnh đến xã, phường, thị trấn quan tâm chỉ đạo, tạo chuyển biến trong nhận thức, trong sinh hoạt cộng đồng, góp phần xây dựng đời sống văn hóa lành mạnh ở cộng đồng dân cư.

Đối với việc cưới, thực hiện tốt Quy chế của tỉnh quy định về nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang trên địa bàn tỉnh các lễ nghi theo phong tục trước và sau khi cưới được tổ chức tiết kiệm, giản đơn, lành mạnh, đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm.

Ðối với việc tang, các địa phương đã tích cực tuyên truyền, vận động cán bộ, nhân dân thực hiện nếp sống văn minh, tình trạng tổ chức tang lễ kéo dài nhiều ngày, ăn uống tràn lan được khắc phục, các hủ tục trong tang lễ hầu như không còn. Nhiều hộ đã sử dụng đĩa nhạc tang, hạn chế vòng hoa, bức trướng, hạn chế mở nhạc quá to, quá khuya. Các tuần tiết sau đám tang (3 ngày, tuần đầu, 49 ngày, 100 ngày) được tổ chức gọn nhẹ trong ngày và trong nội bộ gia đình, dòng họ.

          2.Lỉnh vực Gia đình

Nhằm thực hiện mục tiêu xây dựng gia đình no ấm, tiến bộ, hạnh phúc, gia đình thực sự là tổ ấm của mỗi người, là tế bào lành mạnh của xã hội. Hàng năm, tiếp tục duy trì và triển khai nhân rộng 03 Mô hình, Đề án: Mô hình Phòng, chống bạo lực gia đình; Mô hình “Củng cố gia đình văn hóa giai đoạn CNH, HĐH đất nước” và Đề án “Tuyên truyền giáo dục, đạo đức lối sống trong gia đình Việt Nam” đến các huyện, thị, thành phố trên địa bàn tỉnh. Việc triển khai Mô hình, Đề án đã góp phần nâng cao tỷ lệ hộ gia đình đạt tiêu chuẩn văn hóa, góp phần thực hiện hiệu quả phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”. Thông qua hoạt động, đã tạo điều kiện để các thành viên và mọi người thực hiện các quyền và trách nhiệm của mình: Hiểu biết hơn về Luật Phòng, chống bạo lực gia đình; Luật Bình đẳng giới; Luật Hôn nhân và Gia đình; giáo dục, đạo đức lối sống trong gia đình, từ đó không để bạo lực xảy ra trong gia đình mình. Chị em phụ nữ có thêm kiến thức về việc chăm sóc sức khỏe sinh sản, các kỹ năng xây dựng và giữ gìn hạnh phúc gia đình.

3.Hoạt động Thể dục thể thao

Thể thao quần chúng : Phong trào TDTT quần chúng phát triển nhanh ở các đối tượng, khu vực trong tỉnh, gắn liền với phong trào “Toàn dân rèn luyện thể thao theo gương Bác Hồ vĩ đại”, nội dung, hình thức tập luyện phong phú, đa dạng, hoạt động thể thao từng bước trở thành nhu cầu của đông đảo nhân dân. Đến nay toàn tỉnh đã có 27,7 % dân số tập luyện TDTT thường xuyên (tăng 19,81% so với năm 1997); số gia đình thể thao đạt 23,5% (tăng 15,83% so với năm 1997); tỷ lệ trường học đảm bảo Giáo dục thể chất trong những năm qua luôn đạt 100%. Ngoài ra, để định hướng hoạt động phong trào, trung bình hàng năm, các địa phương đã tổ chức được gần 600 cuộc thi đấu thể thao và nhiều giải thể thao do các ban, ngành, đoàn thể, doanh nghiệp tự đứng ra tổ chức; toàn tỉnh có 840 CLB thể thao cơ sở các môn, phục vụ nhu cầu tập luyện cho các tầng lớp nhân dân.

 Thể thao thành tích cao : Những năm qua ngành thể thao Bình Dương đã duy trì được một hệ thống đào tạo VĐV các tuyến bài bản. Ngoài đầu tư kinh phí, đào tạo tập trung phát triển các môn thể thao thế mạnh, còn có hệ thống các lớp nghiệp dư tuyến cơ sở, nhằm cung cấp những gương mặt tài năng nhất cho thể thao thành tích cao.

          Với cách làm này, trong những năm qua đang tập trung đào tạo 17 môn thể thao (chưa tính các môn theo mô hình xã hội hóa), với 881 vận động viên (210 VĐV tuyến tuyển; 197 VĐV tuyến trẻ và 474 VĐV tuyến năng khiếu), tăng 744 VĐV so với năm 2001 (137VĐV);. Hàng năm đóng góp nhiều lượt vận động viên cho đội tuyển Trẻ và đội Tuyển quốc gia điển hình như : VĐV Lại Lý Huynh môn cờ tướng, Nguyễn Thùy Dung môn xe đạp, VĐV Sepha môn thể hình, VĐV Nguyễn Thanh Duy môn Karatedo…; các môn thể thao thế mạnh được đầu tư và duy trì thường xuyên như Võ thuật, thể dục thể hình, bida, xe đạp, quần vợt, bóng đá… đồng thời hàng năm tham gia khoảng hơn 100 giải thể thao khu vực, toàn quốc, quốc tế; đã giành được hàng ngàn huy chương các loại trên tất cả các hệ thống giải. Thành tích rõ nét nhất là qua các kỳ Đại hội thể dục thể thao toàn quốc; Nếu như tại Đại hội thể dục thể thao toàn quốc lần thứ IV năm 2002, đạt 4 HCB, 6HCĐ xếp vị trí thứ 46/66 tỉnh, thành, ngành; thì tại Đại hội thể dục thể thao toàn quốc lần VI năm 2010, thể thao Bình Dương xuất sắc đoạt 10 HCV, 12 HCB, 22 HCĐ, xếp vị trí thứ 21/65 tỉnh, thành, ngành tham gia, vượt chỉ tiêu kế hoạch đề ra; vị trí trên tiếp tục được giữ vững tại Đại hội thể dục thể thao toàn quốc lần thứ VII năm 2014; có 245 VĐV đạt đẳng cấp quốc gia (trong đó có 76 VĐV cấp kiến tướng và 169 VĐV cấp I ), tăng 214 VĐV so với năm 2001 (31VĐV).

Bênh cạnh đó, hệ thống cơ sở vật chất phục vụ việc tập luyện và thi đấu từ cấp cơ sở đến cấp tỉnh ngày càng được hoàn thiện. Hiện nay, ngoài sân vận động tỉnh đạt tiêu chuẩn tổ chức thi đấu các giải cấp quốc gia, quốc tế; khán đài với sức chứa khoảng 20.000 chỗ ngồi (khán đài A, B đã bố trí ghế); đường chạy điền kinh phủ nhựa tổng hợp; dàn đèn chiếu sáng đạt tiêu chuẩn còn có Nhà thi đấu đa năng hiện đại với sức chứa 1500 chỗ ngồi đã hoàn thành và đi vào hoạt động cùng nhiều công trình thể thao từng môn khác phục vụ tốt cho tập luyện và thi đấu của các đội thể thao.

          Vận động Xã hội hóa thể thao: Đi đầu trong việc xã hội hóa (XHH) thể thao Bình Dương là ở môn bóng đá. Sau khi ngành thể thao cho phép XHH theo hình thức cổ phần thì bóng đá Bình Dương cũng rẽ sang một bước ngoặt mới, chói lọi và huy hoàng hơn, cụ thể đội bóng đá Becamex trong những năm qua đã giành 3 chức vô địch giải bóng đá chuyên nghiệp quốc gia (V-League), 3 chức vô địch Siêu cúp Quốc gia, lọt vào bán kết AFC cúp cùng nhiều thành tích cao khác. Tiếp nối bóng đá là đội tuyển xe đạp nữ được công ty Cấp thoát nước - Môi trường Bình Dương (Biwase) đầu tư. Hiện nay, đội xe đạp nữ đang là 1 trong 3 trung tâm mạnh nhất nước.

Tiếp đến là môn quần vợt, từ chỗ là vùng trắng trên bản đồ quần vợt Việt Nam, đến nay quần vợt Bình Dương đã trở thành hình mẫu để cả nước học tập. Hiện tại, Bình Dương đang sở hữu tay vợt giỏi nhất Việt Nam là Lý Hoàng Nam đạt nhiều thành tích ngoạn mục ở các giải trẻ thế giới (ITF); có hệ thống đào tạo tài năng trẻ được đánh giá là chuyên nghiệp, bài bản, liên tục sản sinh những tay vợt giỏi cho quốc gia. Song song đó là các môn thể hình, võ thuật, cờ, billards, bowling cũng được xây dựng từ nền tảng XHH, xuất phát từ niềm đam mê, tâm huyết mãnh liệt của những cá nhân.

Một mảng son cần phải nhắc đến trong bức tranh XHH thể thao Bình Dương là công tác tổ chức các giải thể thao bằng nguồn kinh phí xã hội hóa, điển hình như : Giải bóng đá quốc tế Truyền hình Bình Dương; giải xe đạp nữ quốc tế; giải billiards carom 3 băng quốc tế; giải việt dã chào năm mới; giải bóng đá thành phố mới Bình Dương; giải xe đạp phong trào truyền hình Bình Dương; giải bóng đá doanh nhân mở rộng Báo Bình Dương…Ngoài ra nhiều đơn vị kinh tế, tư nhân tham gia đầu tư xây dựng công trình, sân bãi thể thao với quy mô lớn như : Trung tâm TDTT Cộng Đồng; Cụm sân bóng đá-quần vợt KCN Mỹ Phước 1; Trung tâm Văn hóa Thể thao công ty TNHH MTV Cao Su Dầu Tiếng…và đặc biệt là mô hình sân bóng đá mini cỏ nhân tạo phát triển rất năng động (hiện nay toàn tỉnh có khoảng trên 500 sân bóng đá được tư nhân đầu tư), cùng các công trình sân Golf, sân quần vợt, hồ bơi..,

Hiện này, Bình Dương đã thành lập được 9 tổ chức Hội, Liên đoàn thể thao cấp tỉnh, là những tổ chức xã hội đã có nhiều đóng góp tích cực cùng với ngành tổ chức quản lý hiệu quả các hoạt động Thể dục Thể thao theo chủ trương xã hội hoá, góp phần đẩy mạnh phát triển sự nghiệp TDTT trong thời gian qua.

4.Lỉnh vực Du lịch

Trong những năm qua, kinh tế Bình Dương không ngừng phát triển và luôn đạt tốc độ tăng trưởng cao; Ngành công nghiệp phát triển sẽ là tiền đề thuận lợi cho ngành dịch vụ phát triển, trong đó có du lịch, bên cạnh công nghiệp phát triển, ngành Du lịch cũng từng bước đã và đang phát triển hình thành một số khu, điểm du lịch để phục vụ người dân và du khách đến tham quan, vui chơi, giải trí, nghỉ dưỡng, hưởng thụ các sản phẩm du lịch của tỉnh nhà. Với vị trí giao thông thuận lợi, kết hợp các tiềm năng du lịch hiện có với những tên gọi quen thuộc như: Vườn cây ăn trái Lái Thiêu, Khu du lịch Nuí Cậu- hồ Dầu Tiếng, Khu di tích danh thắng Núi Châu Thới, cùng các di tích lịch sử Cách mạng như Nhà tù Phú Lợi, Địa đạo Tam giác sắt, các công trình kiến trúc cổ như nhà ông Trần Công Vàng, Trần Văn Hổ, chùa Hội Khánh,… và các làng nghề truyền thống nổi tiếng ở trong và ngoài nước điều biết như Làng Sơn mài Tương Bình Hiệp, gốm sứ cao cấp Minh Long 1, gốm Tân Phước Khánh,…Đây là một những yếu tố, điều kiện thuận lợi cho ngành du lịch phát triển với nhiều loại hình du lịch hấp dẫn để phục vụ du khách trong và ngoài nước đến Bình Dương tham quan. Trong 20 năm qua, ngành du lịch hình thành và phát triển đạt được những kết quả như sau:

Tính đến cuối 2014 toàn tỉnh có 476 đơn vị kinh doanh lưu trú, với 9.545 phòng, tổng vốn đăng ký kinh doanh là 1.661 tỷ đồng, trong đó 87 khách sạn, nhà nghỉ được xếp hạng (18 khách sạn xếp hạng từ 1 sao đến 5 sao, đặc biệt lần đầu tiên Bình Dương có 01 khách sạn đạt tiêu chuẩn 5 sao và 64 nhà nghỉ đạt tiêu chuẩn kinh doanh lưu trú) và 23 đơn vị hoạt động kinh doanh lữ hành, trong đó có 5 đơn vị kinh doanh lữ hành quốc tế và 18 đơn vị kinh doanh lữ hành nội địa.; Doanh thu du lịch năm 1997 đạt 56,94 tỷ đồng đến 2014 là 1.100 tỷ đồng, tăng 19,3 lần so với năm 1997. Tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn 1997-2000 đạt 2,85%/năm, giai đoạn 2001-2005 đạt 27,30%/năm, giai đoạn 2006-2010 đạt 30,11%/năm và giai đoạn 2010-2015 ước đạt 10%/năm. Lượt khách năm 1997 là 180.034 lượt đến năm 2014 là 4.200.000 lượt, tăng 23,3 lần so với năm 1997.  Tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn 1997-2000 đạt 4,59%/năm, giai đoạn 2001-2005 đạt 13,29%/năm, giai đoạn 2006-2010 đạt 72,33%/năm và giai đoạn 2010-2015 ước đạt 5%/năm.

II. LÃNH ĐẠO SỞ QUA CÁC THỜI KỲ

1.Giai đoạn từ năm 1997-2008

a.Sở Văn hóa và Thông tin:

Ban giám đốc gồm:

-Giám đốc: Vũ Đức Thành (1997-2000); Đỗ Khắc Điệp (2000-2008)

Các Phó Giám đốc: Vũ Đức Thành (1995-1997); Đỗ Khắc Điệp (1996-2000); Nguyễn Ngọc Điệp (1997-2006); Nguyễn Xuân Tường (2000-2008); Đỗ Huỳnh Long (2001 -2007);  Lê Hữu Phước (2006-2008);

b.Sở Thể dục thể thao:

Ban Giám đốc gồm:

-Giám đốc: Phạm Văn Sơn Khanh (1995-1999); Nguyễn Phú Yên (1999-2008)

-Các Phó Giám đốc: Ninh Quốc Bình (1995-1998); Nguyễn Kim Phụng (1998-2008); Phạm Thị Minh Phong (1998-2007)

2. Giai đoạn từ năm 2008-2015

Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Ban Giám đốc gồm:

-Giám đốc: Đỗ Khắc Điệp (2008-2012); Nguyễn Văn Lộc (2012-2014); Lê Hữu Phước (2014-2015)

-Các Phó Giám đốc: Nguyễn Xuân Tường (2008-2012); Lê Hữu Phước (2008-2014); Nguyễn Phú Yên (2008-2015); Nguyễn Kim Phụng (2008-2011); Nguyễn Khoa Hải (2012-2013); Lê Phan Thuần (2008-2015); Nguyễn Thị Minh Nghĩa (2014-2015)